Xem Lá Số

Cách xem tử vi

Độ sáng của sao: miếu, vượng, đắc, bình hòa, hãm là gì

Độ sáng của sao cho biết một sao đứng ở cung đó mạnh hay yếu. Tử vi chia năm mức, từ mạnh đến yếu: miếu, vượng, đắc, bình hòa và hãm. Sao sáng thì mặt tốt dễ ra; sao hãm vẫn giữ tính chất của nó nhưng hay lộ mặt khó và phải tốn công hơn, chứ không phải xấu hết.

Độ sáng của sao là gì?

Lá số có 12 cung, mỗi cung mang một địa chi từ Tý đến Hợi. Mỗi chính tinh có một bảng riêng cho 12 địa chi đó: đứng ở chi này thì sáng, đứng ở chi kia thì tối. Vì vậy hai người cùng có Thái Dương ở Mệnh, một người Thái Dương ở Ngọ, một người ở Tý, đọc ra rất khác nhau.

Trên lá số của xemlaso, cạnh tên sao có một chữ trong ngoặc: (M) là miếu, (V) là vượng, (Đ) là đắc, (B) là bình hòa, (H) là hãm. Bảng độ sáng lấy theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên.

Miếu, vượng, đắc, bình hòa, hãm nghĩa là gì?

  • Miếu: sao ở chỗ hợp nhất. Mặt tốt ra trọn, mặt xấu được giữ trong khuôn.
  • Vượng: rất mạnh, chỉ kém miếu một chút.
  • Đắc (đắc địa): đủ sức, tốt ở mức vừa.
  • Bình hòa: không mạnh không yếu, tốt hay không tùy các sao đi kèm.
  • Hãm: sao yếu, tính tốt khó phát, tính xấu dễ lộ.

Không phải sao nào cũng có đủ năm mức. Trong bảng 14 chính tinh, chỉ Tử Vi và Thiên Phủ có mức bình hòa, và hai sao này không có cung nào hãm. Mười hai sao còn lại chỉ có miếu, vượng, đắc hoặc hãm.

Độ sáng ảnh hưởng ra sao đến lá số?

Độ sáng không đổi tính chất của sao, chỉ đổi cách sao đó hiện ra ngoài đời.

Lấy Cự Môn, sao của lời nói và lý lẽ. Cự Môn miếu ở Mão, Dậu, vượng ở Tý, Ngọ, Dần: người nói có lý, có sức thuyết phục, hợp việc phải dùng lời như dạy học hay bán hàng. Cự Môn hãm ở Sửu, Thìn, Tị, Mùi, Tuất: lời nói dễ thành hiểu lầm, dễ bị nói ra nói vào, phải giữ miệng hơn người khác.

Lấy Tham Lang, sao của ham muốn, giao tiếp và kiếm tiền. Tham Lang miếu ở Sửu, Mùi, vượng ở Thìn, Tuất, đắc ở Dần, Thân: ham muốn biến thành sức làm, giỏi xoay xở, kiếm được tiền. Tham Lang hãm ở Tý, Mão, Tị, Ngọ, Dậu, Hợi: dễ ham vui, tiêu nhiều, dễ sa vào ăn chơi nếu không có sao tốt đi kèm.

Độ sáng còn đi cùng tứ hóa. Hóa Lộc gắn vào sao sáng dễ thành lợi thật; Hóa Kị gắn vào sao hãm thì chỗ vướng nặng hơn. Xem thêm bài tứ hóa Lộc, Quyền, Khoa, Kị.

Khi hai chính tinh cùng một cung, sao nào sáng hơn thường làm chủ, sao kia đi theo. Thái Dương và Cự Môn cùng ở Dần thì cả hai đều vượng, sáng ngang nhau: người vừa cởi mở vừa nói có lý. Cùng cặp đó ở Thân thì Thái Dương hãm, Cự Môn đắc: Cự Môn nắm phần chính, người sống bằng lý lẽ, lời nói nhiều hơn là bằng chuyện ra mặt.

Thái Dương và Thái Âm: ví dụ dễ nhớ nhất

Thái Dương là mặt trời, nên sáng ở các cung ứng với ban ngày: vượng ở Dần, Mão, Thìn, miếu ở Tị, Ngọ. Ở Sửu và Mùi, Thái Dương đắc. Từ Thân, Dậu, Tuất, Hợi sang Tý, Thái Dương hãm, như mặt trời đã lặn.

Thái Âm là mặt trăng, nên ngược lại: vượng ở Thân, miếu ở Dậu, Tuất, Hợi, rồi vượng ở Tý. Ở Sửu và Mùi, Thái Âm đắc. Từ Dần đến Ngọ, Thái Âm hãm.

Ngoài đời:

  • Thái Dương sáng: người cởi mở, thích làm việc ra mặt, được người khác biết đến, hay giúp người. Thái Dương hãm: vẫn tốt bụng, vẫn muốn lo cho người khác, nhưng làm nhiều mà ít ai thấy, hay mệt vì gánh việc của người.
  • Thái Âm sáng: biết tích góp, chăm lo nhà cửa, tính kín đáo, chu đáo. Thái Âm hãm: tiền vào rồi lại ra, hay lo nghĩ, dễ buồn vì chuyện nhỏ trong nhà.

Ở Sửu và Mùi, Thái Dương và Thái Âm đứng chung một cung, cả hai cùng ở mức đắc. Người có cặp sao này ở Mệnh thường có hai mặt rõ: lúc muốn ra ngoài làm việc lớn, lúc lại chỉ muốn yên ổn lo cho nhà.

Sao hãm có phải xấu hết không?

Không. Sao hãm chỉ có nghĩa là tính tốt của sao khó phát; muốn được việc thì phải đi đường dài hơn, chịu khó hơn. Chính tinh hãm ở Mệnh vẫn có thể làm nên, thường là muộn hơn hoặc sau vài lần vấp.

Sao hãm nhẹ đi khi:

  • Có Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa gắn vào hoặc chiếu về.
  • Có các sao tốt đi kèm như Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt.
  • Cung đối và hai cung tam hợp có sao sáng chiếu về.

Ngược lại, sao miếu mà gặp Hóa Kị và nhiều sao xấu như Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp thì vẫn có lúc khó. Thứ tự xem là: chính tinh và độ sáng trước, rồi tứ hóa và các sao xấu, sau cùng mới đến sao tốt và các sao nhỏ. Không lấy một sao nhỏ để cứu cả một cung, cũng không lấy một sao hãm để kết luận cả lá số.

Cách xem độ sáng trên lá số của bạn

  1. Lập lá số miễn phí bằng ngày giờ sinh.
  2. Xem chính tinh ở Mệnh, Quan Lộc, Tài Bạch trước, vì ba cung này nói về bạn, việc làm và tiền.
  3. Nhìn chữ trong ngoặc cạnh tên sao để biết sao sáng hay hãm.
  4. Cung có hai chính tinh thì xem sao nào sáng hơn để biết sao nào làm chủ.
  5. Đọc tiếp tứ hóa, các sao đi kèm, cung đối và tam hợp rồi mới kết luận.

Hỏi đáp về độ sáng của sao

Sao miếu và sao vượng khác nhau thế nào?

Cả hai đều là sao sáng, mặt tốt dễ phát. Miếu là mức cao nhất, sao ở đúng chỗ hợp nhất; vượng chỉ kém một chút. Khi đọc lá số, khoảng cách giữa miếu và vượng nhỏ hơn nhiều so với khoảng cách giữa sáng và hãm.

Sao hãm ở cung Mệnh có sao không?

Một sao hãm chưa nói lên cả đời. Sao hãm ở Mệnh cho biết bạn phải chịu khó hơn ở phần việc sao đó cai quản, chẳng hạn Thái Âm hãm thì phải học cách giữ tiền. Còn phải xem tứ hóa, sao đi kèm, cung đối Thiên Di và hai cung tam hợp Quan Lộc, Tài Bạch mới biết nặng nhẹ.

Vì sao chỗ này ghi miếu, chỗ khác ghi vượng?

Các sách và các phái có bảng độ sáng hơi khác nhau ở vài cung. xemlaso dùng một bảng theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên cho cả 14 chính tinh, nên lá số và các bài viết trên trang dùng cùng một bảng.

Bình hòa là tốt hay xấu?

Bình hòa là mức giữa, không tốt hẳn, không xấu hẳn. Trong 14 chính tinh chỉ Tử Vi và Thiên Phủ có mức này. Tử Vi hay Thiên Phủ bình hòa vẫn giữ được tính đứng đắn, biết lo liệu, nhưng cần sao tốt đi kèm mới phát hết sức.

Xem trên lá số của bạn

Bài này giải thích chung. Lập lá số bằng ngày giờ sinh để biết các sao nằm ở cung nào của bạn, đọc miễn phí phần Tổng quan.

Lập lá số miễn phí

Bài cùng chủ đề

Viết theo Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, chỉ để tham khảo. Cập nhật 29/10/2026.